Thuật ngữ tổng quát

Nhận thức luận / Epistemology

 

NHẬN THỨC LUẬN / EPISTEMOLOGY

 

Một thuật ngữ triết học dùng để chỉ “lý thuyết về nhận thức”. Nhận thức luận quan tâm đến việc phân tích ý nghĩa của chính thuật ngữ “nhận thức”, và khảo sát những vấn đề như: (i) con người có thể biết được những gì (giới hạn và phạm vi của nhận thức)  (ii) nhận thức ấy có đáng tin cậy hay không, cùng với việc xác định điều gì làm cho một niềm tin được xem là có căn cứ hay chính đáng để được công nhận là “tri thức”. Do đó, các nhà triết học có thể đặt ra những câu hỏi như: “Có sự khác biệt nào giữa việc biết một điều gì đó là đúng và việc tin rằng điều ấy là đúng hay không?”, hay: “Nhận thức của con người phụ thuộc vào lý tính hay vào giác quan đến mức nào?” Đã có rất nhiều cách tiếp cận khác nhau đối với vấn đề này. Plato (khoảng 428–348 TCN) cho rằng các năng lực lý tính của chúng ta là một thuộc tính nội tại của tinh thần, và là nguồn suối duy nhất của nhận thức (một quan điểm thường được xếp vào phạm trù “thuyết duy lý”). Trái lại, những người theo thuyết duy nghiệm cho rằng sự hiểu biết của con người, và vì thế cả nhận thức, chỉ nảy sinh từ kinh nghiệm giác quan. Theo thuyết duy nghiệm, những gì chúng ta biết là kết quả của việc chúng ta tri giác thế giới bằng các giác quan (quan điểm này thường được gắn với các nhà tư tưởng như Locke, Berkeley và Hume).

Chống lại các nhà duy nghiệm, triết gia người Đức Immanuel Kant cho rằng có những điều kiện tất yếu của nhận thức không thể quy giản thành kinh nghiệm đơn thuần. Vì vậy, ông đã trình bày một quan niệm về các điều kiện “tiên nghiệm” làm cho kinh nghiệm trở nên khả hữu. Các phán đoán tiên nghiệm có thể được xác lập một cách độc lập với kinh nghiệm. Theo quan điểm này, chúng ta có một loại nhận thức (nhận thức tiên nghiệm), đi trước mọi nhận thức thường nghiệm và độc lập với chúng. Quả thực, theo Kant, loại nhận thức như thế (chẳng hạn các “trực quan thuần túy” về thời gian và không gian), là điều kiện tiên quyết để chúng ta có thể có bất kỳ nhận thức nào về kinh nghiệm. Ta có thể hiểu rõ quan điểm của Kant hơn khi so sánh với quan niệm duy nghiệm của Locke về tinh thần. Theo Locke, tinh thần con người giống như một “tờ giấy trắng”, rồi được kinh nghiệm giác quan “viết” lên. Tuy nhiên, quan niệm này có thể bị phản bác ở chỗ: nếu tinh thần có khả năng tiếp nhận kinh nghiệm thì điều đó hẳn phải dựa trên một cấu trúc nào đó mà nó đã có sẵn trước khi có bất kỳ kinh nghiệm cá biệt nào. Nếu tinh thần của chúng ta chỉ đơn thuần là những “tờ giấy trắng”, thì ngay từ đầu làm sao chúng ta có thể nhận ra một điều gì đó là kinh nghiệm? Vì vậy, Kant cho rằng khả năng có kinh nghiệm không thể được rút ra từ bất kỳ kinh nghiệm cá biệt nào, vì thế tất phải có những phán đoán tiên nghiệm cấu thành nên các điều kiện khả thể của kinh nghiệm. Kant cho rằng có hai loại nhận thức tiên nghiệm: một loại dựa trên các phán đoán “phân tích”, và loại kia dựa trên các phán đoán “tổng hợp”. Nhận thức phân tích tiên nghiệm gồm những mệnh đề như “mọi hình tam giác đều có ba cạnh” (nghĩa là mệnh đề ấy đúng theo chính định nghĩa của nó, và chúng ta không cần bất kỳ dữ liệu thường nghiệm nào để xác lập chân lý của nó). Vì vậy, khi xét một chủ từ A và một thuộc từ B, thì thuộc từ B đã được bao hàm sẵn trong A như một phần của nó. Ngược lại, trong các phán đoán tổng hợp thuộc từ, B, nằm ở bên ngoài chủ từ, A (Phê phán lý tính thuần túy: A7/B11). Vì vậy, một phán đoán tổng hợp đòi hỏi phải có một hành vi suy luận vượt ra ngoài phạm vi của những khái niệm được hình thành bằng phân tích mà ta có sẵn một cách độc lập với kinh nghiệm (nghĩa là, những phán đoán như vậy luôn liên quan đến thế giới thường nghiệm hay thế giới bên ngoài). Theo Kant, mọi phán đoán liên quan đến kinh nghiệm đều là phán đoán tổng hợp, và mọi nhận thức có giá trị thực sự đều là nhận thức về kinh nghiệm.

Ngoài những cuộc tranh luận đã nêu ở trên về việc nhận thức của chúng ta bắt nguồn từ đâu, cũng cần lưu ý rằng các triết gia thường phân biệt giữa những loại cái biết khác nhau. Chẳng hạn: (i) “biết rằng...”, tức cái biết gắn với những khẳng định về sự kiện và có thể được xác lập trên cơ sở chứng cứ;  (ii) “biết cách...”, tức cái biết cần có để làm một số việc nhất định (chẳng hạn như đi xe đạp). (iii) “biết qua trải nghiệm trực tiếp”, gồm những loại cái biết có được từ kinh nghiệm cá nhân hoặc từ những trải nghiệm riêng của bản thân (chẳng hạn như ký ức), và không nhất thiết có thể được kiểm chứng theo cách như loại cái biết nêu ở (i); và (iv) “biết qua mô tả”, tức là việc cái biết có được từ việc chúng ta được cung cấp những thông tin, dữ kiện hay đặc điểm liên quan đến một sự vật hoặc một người nào đó (chẳng hạn, “Shakespeare” là người đã viết Hamlet, Vua Lear và những vở kịch khác, đã kết hôn với Anne Hathaway, v.v.). Như thường thấy ở các triết gia, vẫn có khá nhiều quan điểm bất đồng về tính hữu dụng của các định nghĩa này.

Trong số những viễn tượng đáng chú ý khác về nhận thức, có thể kể đến những tư tưởng do Friedrich Nietzsche (1844–1900) đề xuất, và sau ông là Michel Foucault (1926–84). Có nhiều cách diễn giải khác nhau về thái độ của Nietzsche đối với các vấn đề nhận thức (chẳng hạn, trước tác của ông những quan điểm song hành với một số tư tưởng cốt lõi của thuyết dụng hành [pragmatism]). Tuy nhiên, một diễn giải chủ đạo về nhận thức, có ảnh hưởng lớn đến các quan điểm được gắn với chủ nghĩa hậu hiện đạichủ nghĩa hậu cấu trúc, lại được rút ra từ cách Foucault đọc Nietzsche. Đối với Nietzsche, “tri thức” không phải là cái gì đó có thể được phân tích một cách thích đáng nếu không xem xét các quan hệ quyền lực. Bởi lẽ, theo ông, cái mà chúng ta gọi là “tri thức” thực ra chỉ là sự biểu hiện của một tập hợp các xung lực và lợi ích (chẳng hạn xem những ghi chép được xuất bản sau khi ông qua đời, về sau hợp thành tác phẩm Ý chí quyền lực). Lập trường này song hành với diễn giải của Nietzsche về ý nghĩa của đạo đức trong Về phả hệ của đạo đức (1887).

Ở đây, Nietzsche đưa ra một cách lý giải về các hệ thống đạo đức, theo đó những giá trị mà chúng đề cao phải được xét trong mối liên hệ với nguồn gốc phả hệ của chúng: đạo đức “nô lệ” đề cao sự “nhu thuận” vì kẻ nô lệ là nạn nhân; trái lại, đạo đức “quý tộc” đề cao cái mạnh. Tóm lại, cả kẻ làm nô lẫn người làm chủ, bằng cách này hay cách khác, đều tự khẳng định mình thông qua nền đạo đức của mình. Trên cơ sở cách lý giải ấy, Foucault đã phát triển một luận cứ để phân tích các hình thái tri thức như những biểu hiện của những lợi ích xã hội xác định (xem thêm: diễn ngônphả hệ). Dù mỗi quan điểm ấy đều có những ưu điểm và khó khăn riêng, vẫn có một điều rõ ràng: cả Nietzsche (nếu được trình bày theo cách này) lẫn Foucault đều không có “nhận thức luận” theo nghĩa mà những nhà tư tưởng khác, như Kant, đã có. Thực vậy, nếu chúng ta bị họ thuyết phục thì chỉ còn một bước ngắn nữa là đi tới chỗ từ bỏ nhận thức luận để chuyển sang một sự phân tích tinh vi về các quan hệ xã hội (mặc dù địa vị của những phân tích như thế, xét như những hình thức nhận thức, có lẽ lại là một vấn đề khó xử, đặc biệt đối với Foucault).

Tuy nhiên, chưa hẳn người ta có thể dễ dàng từ bỏ nhận thức luận như vậy. Vì thế, như chính Nietzsche đã lưu ý ở phần mở đầu của Con người, Quá đỗi con người (1878–80), việc phân tích nguồn gốc của một sự vật không nhất thiết được xem là một sự giải thích đầy đủ về nó. Do đó, dù một diễn ngôn được sản sinh từ những điều kiện hay ý hướng nào đi nữa, cũng không thể vì thế mà giản đơn quy toàn bộ ý nghĩa của nó về chính những điều kiện ấy. Mặt khác, tuy chắc chắn Nietzsche không xây dựng một “lý thuyết về nhận thức” có cấu trúc lý luận chặt chẽ, ông cũng không hoàn toàn từ bỏ việc nêu ra những câu hỏi nhận thức luận. Vì vậy, nhiều nhận xét của ông vẫn còn có ý nghĩa đối với việc nghiên cứu nhận thức luận (chẳng hạn, có thể cho rằng từ Về phả hệ đạo đức ta có thể rút ra một cách lý giải mang tính chuẩn tắc về sự biện minh, và cách lý giải ấy hoàn toàn có thể được đặt một cách thích hợp trong phạm vi khảo cứu của nhận thức luận). Mặt khác, phương pháp phả hệ do Foucault phát triển cũng có thể bị phê phán từ nhiều hướng khác nhau, dựa trên những cách đọc khác về Nietzsche (một ví dụ tiêu biểu là Peter Dews trong Krell và Wood 11988. Có lẽ điều quan trọng nhất mà loại viễn tượng này mang lại là thái độ phê phán cố hữu của nó đối với nhận thức luận Descartes, bởi lẽ trong chừng mực quyền lực cấu thành nên các phương thức nhận thức thì nó cũng đồng thời cấu thành nên chính chủ thể nhận thức.

Đọc thêm

Dancy, J. (1985) An Introduction to Contemporary Epistemology, Oxford: Blackwell. 

Dancy, J. and Sosa, E. (1992) A Companion to Epistemology, Oxford: Blackwell. 

Foucault, M. (1970) (1966) The Order of Things: An Archaeology of the Human Sciences, London: Tavistock.

—— (1972) (1969) The Archaeology of Knowledge, tr. A.M. Sheridan Smith, New York: Pantheon Books.

—— (1977b) ‘Nietzsche, Genealogy, History’, in D.F. Bouchard (ed.), Language, Counter-Memory, Practice, Oxford: Blackwell.

Krell, D.F. and Wood, D. (1988) Exceedingly Nietzsche: Aspects of Contemporary Nietzschean Interpretation, London: Routledge.

Nietzsche, F.W. (1968a) The Birth of Tragedy (1872), Beyond Good and Evil (1886), On the Geneaology of Morals (1887), all in Basic Writings of Nietzsche, ed. and tr. Walter Kaufman, New York: Basic Books

—— (1968b) The Will to Power, tr. Walter Kaufmann and R.J. Hollingdale, New York: Viking.

Đinh Hồng Phúc dịch


Nguồn: Andrew Edgar, Peter Sedgwick. Cultural Theory: The Key Concepts. Routledge, 2008.


Siêu hình học 
Thuyết duy nghiệm

 

 

 

Ý KIẾN BẠN ĐỌC

Mọi liên lạc và góp ý xin gửi về: dinhhongphuc2010@gmail.com.
Bản quyền: www.triethoc.edu.vn
Chịu trách nhiệm phát triển kỹ thuật: Công ty TNHH Công Nghệ Chuyển Giao Số Việt