|
THUYẾT CẤU TRÚC / STRUCTURALISM
Một cách tiếp cận phương pháp luận đã được vận dụng trong rất nhiều lĩnh vực (chẳng hạn khoa học xã hội, nhân học, phê bình văn học). Về đại thể, người ta thừa nhận rằng thuyết cấu trúc có thể bắt nguồn từ cuốn sách Giáo trình ngôn ngữ học đại cương (1916) của Ferdinand de Saussure, mặc dù bản thân thuật ngữ này do nhà lý thuyết cấu trúc luận người Nga là Roman Jakobson đặt ra. Trong công trình của mình, Saussure đã cố gắng xây dựng một mô tả khoa học về tiến trình tạo nghĩa, mà ông gọi là ký hiệu học, tức khoa học về các ký hiệu. Theo quan điểm của Saussure mọi ngôn ngữ (mà cách định nghĩa ở đây còn bao gồm cả các hình thức giao tiếp khác chứ không chỉ riêng ngôn ngữ nói) đều có thể được phân tích như một hệ thống quan hệ mang tính cấu trúc. Saussure cho rằng ý nghĩa (hay nghĩa) được quyết định bởi mối quan hệ này, chứ không phải bởi chức năng quy chiếu của các ký hiệu trong ngôn ngữ. Vì thế, một ký hiệu được coi là có nghĩa nhờ mối quan hệ của nó với các từ khác, chứ không phải vì nó quy chiếu đến một đối tượng cụ thể nào đó. Theo đó, Saussure đã lập luận cho quan điểm rằng ngôn ngữ có thể được mô tả dựa trên một phân biệt căn bản: phân biệt giữa langue và parole. Langue cấu thành yếu tố cấu trúc nền tảng của ngôn ngữ (tức mạng lưới các ý nghĩa phải có sẵn ở bất kỳ thời điểm nào để một người nói có thể nói được); còn parole là sự sử dụng thực tế những yếu tố ấy khi chúng được hiện thực hóa trong từng phát ngôn cá biệt. Một khái niệm quan trọng trong thuyết cấu trúc là đối lập nhị phân; khái niệm này, thực chất, cho rằng ý nghĩa được quyết định bởi quan hệ đối lập tồn tại cố hữu giữa các ký hiệu khác nhau (tốt–xấu, sáng–tối, v.v.), và quan hệ ấy tác động như một lực quy định nền tảng đối với việc kiến tạo ý nghĩa. Luận điểm này, ít nhất theo quan điểm của Jakobson, đã được xem là cấu thành cấu trúc nền tảng của mọi ngôn ngữ. Khái niệm này đã dẫn tới sự phát triển của một số cách tiếp cận phê bình – chẳng hạn phê bình văn học cấu trúc, một hướng tiếp cận tìm cách sử dụng khái niệm đối lập như một phương tiện để giải mã một cách khoa học sự tổ chức của các ý nghĩa trong các văn bản văn học. Vì vậy, ở đây có một sự cam kết minh nhiên đối với quan điểm rằng ta có thể sử dụng một luận giải về ý nghĩa mang tính khách quan và phổ quát nhằm làm lộ ra những ý nghĩa cụ thể bị ẩn giấu trong văn bản. Tương tự như vậy, thuyết cấu trúc của nhà nhân học Claude Lévi-Strauss tập trung vào việc tìm cách làm sáng tỏ những cấu trúc phổ quát vận hành trong xã hội và văn hóa của con người, trong khi chủ nghĩa Marx cấu trúc của Louis Althusser lại tìm cách tái diễn đạt các ý niệm của Marx trong khuôn khổ cấu trúc luận (thể hiện rõ nhất trong luận giải của ông về bản tính của ý hệ). Vì thế, thuyết cấu trúc có thể được mô tả như một nỗ lực nhằm làm sáng tỏ những điều kiện khách quan cấu thành mọi quan hệ ngôn ngữ và xã hội. Với tư cách ấy, nó đã đưa ra yêu sách muốn được nhìn nhận như một khoa học khách quan. Sự nhấn mạnh vào cấu trúc thường khiến những người theo thuyết cấu trúc giữ một lập trường phê phán đối với thuyết duy nghiệm và thuyết nhân bản. Điều này về cơ bản là do tiền giả định của thuyết cấu trúc rằng ý nghĩa chẳng qua chỉ là vấn đề của các quan hệ nhân quả vận hành trong một cấu trúc nhất định. Vì vậy, những câu hỏi như các câu hỏi liên quan đến năng lực hành động của con người, lợi ích cá nhân hoặc lợi ích chung, đời sống cộng đồng, v.v. nhìn chung hoặc bị các nhà cấu trúc luận bỏ qua, hoặc được giải thích trong giới hạn của khung phân tích cấu trúc–nhân quả. Có thể nêu ra một số phê phán đối với cách tiếp cận cấu trúc luận. Vì vậy, ngay sau khi thuyết cấu trúc nổi lên, một số tác gia như triết gia Jacques Derrida (chẳng hạn xem tiêu luận “Lực và sự tạo nghĩa” trong Viết và tính dị biệt (1967)) hay nhà lý luận văn học Roland Barthes (cả hai về sau đều được gắn với thuyết hậu cấu trúc) tiến hành công kích cái được cho là tính khách quan trong các phương pháp phân tích của nó. Những phê phán như thế bắt đầu bằng cách đặt nghi vấn về quan niệm rằng có một cấu trúc cố định và phổ quát của các quan hệ ngôn ngữ hay xã hội. Tuy nhiên, vẫn có thể nêu ra những phê phán khác. Chẳng hạn, mối quan hệ giữa cấu trúc và năng lực hành động của chủ thể, như cách nó được trình bày trong khuôn khổ phân tích của cấu trúc luận, có thể bị cáo buộc là hàm chứa một lối tiếp cận giản lược đối với những câu hỏi về việc tính chủ thể được cấu tạo như thế nào. Tương tự, cấu trúc luận gặp khó khăn khi phải dung nạp thực tế của biến đổi: nếu ý nghĩa bị quyết định bởi những cấu trúc cứng nhắc, thì câu hỏi làm thế nào lịch sử có thể có được lại là câu hỏi nằm ngoài phạm vi của một lối phân tích cấu trúc luận. Vì nếu chính các cấu trúc ấy cũng chịu sự biến đổi, thì hoặc là (i) quá trình biến đổi phải là một đặc tính nội tại của bất kỳ cấu trúc nào như vậy – điều này hàm ý rằng ngay chính khái niệm “cấu trúc” tự nó đã là một khái niệm có vấn đề; hoặc (ii) bản thân biến đổi là cái ngoại tại đối với cấu trúc, và do đó cấu trúc không mang tính quyết định đối với việc cấu thành các quan hệ xã hội hay các ý nghĩa, mà trái lại, chính cấu trúc lại lệ thuộc vào những nhân tố nhân quả khác, khác về loại. Ngoài ra, luận đề “ý nghĩa là cách dùng” do Wittgenstein giai đoạn sau chủ trương (dẫu phải thừa nhận rằng đó là một luận đề cũng có những vấn đề của chính nó) có thể được đặt đối lập với quan điểm cho rằng ý nghĩa là một vấn đề thuộc về cấu trúc, bởi cái cấu thành “cách dùng” không nhất thiết phải được định nghĩa theo ẩn dụ cấu trúc. Đọc thêm: Clarke, S. (1981) The Foundations of Structuralism: A Critique of Lévi-Strauss and the Structuralist Movement, Brighton: Harvester. Culler, J. (1975) Structuralist Poetics: Structuralism, Linguistics and the Study of Literature, London: Routledge & Kegan Paul. Derrida, J. (1978) (1967) Writing and Difference, tr. Alan Bass, London: Routledge & Kegan Paul. Harland, R. (1987) Superstructuralism, London: Methuen. Jameson, E. (1972) The Prison-House of Language: A Critical Account of Structuralism and Russian Formalism, Princeton, NJ: Princeton University Press. Kurzweil, E. (1980) The Age of Structuralism: Lévi-Strauss to Foucault, New York: Columbia University Press. Lévi-Strauss, C. (1968a) (1958) Structural Anthropology, Harmondsworth: Penguin. —— (1977) (1973) Structural Anthropology, volume 2, Harmondsworth: Penguin. Pettit, P. (1975) The Concept of Structuralism: A Critical Analysis, Dublin: Gill and Macmillan. de Saussure, F. (1983) (1916) Course in General Linguistics, ed. C. Bally and A. Sechehaye, tr. Roy Harris, London: Duckworth. Sturrock, J. (ed.) (1979) Structuralism and Since: From Lévi-Strauss to Derrida, Oxford: Oxford University Press. Đinh Hồng Phúc dịch Nguồn: Andrew Edgar, Peter Sedgwick. Cultural Theory: The Key Concepts. Routledge, 2008. |
Ý KIẾN BẠN ĐỌC