|
(TÍNH) CHỦ THỂ / SUBJECT/IVITY
Một thuật ngữ mà ý nghĩa đương đại của nó có thể lần ngược về triết học của nhà tư tưởng thế kỷ XVII Descartes. Descartes tìm cách bác bỏ các luận cứ của các nhà hoài nghi đương thời, tức những người cho rằng ta không thể biết điều gì một cách chắc chắn. Đối lại quan điểm ấy, ông đề xướng châm ngôn lừng danh “Tôi tư duy, vậy tôi tồn tại” như một trường hợp của điều chắc chắn duy nhất mà mọi hữu thể biết tư duy buộc phải nắm được, kể cả khi nó đang tiến hành hoài nghi mọi điều khác. Vì vậy, chủ thể chính là cái tư duy, và trong chính hành vi tư duy ấy, nó mang những thuộc tính bản chất nhất định, nhờ đó ta có thể xác định nó là gì. Tương tự, trong triết học của mình, Kant dùng thuật ngữ “chủ thể siêu nghiệm” để chỉ điều kiện tiên quyết mang tính cấu trúc của mọi hoạt động tư duy ((x. Phê phán lý tính thuần túy, “Diễn dịch siêu nghiệm”, bản B). Chủ thể siêu nghiệm chính là cái “Tôi tư duy” mà, theo Kant, phải luôn đi kèm mọi biểu tượng của tôi khi tôi đang trong quá trình tư duy. Chính điều đó khiến mọi tư tưởng tôi có đều trở thành tư tưởng của tôi. Chủ thể siêu nghiệm không phải là một thực thể thường nghiệm (tức một thực thể vật chất), mà là một điều kiện tiên quyết siêu hình học tất yếu để tôi có thể có bất cứ tư tưởng nào. Theo nghĩa này, chủ thể là nguồn suối của tự ý thức. Thuật ngữ này cũng gắn với phân tâm học Lacan (trong đó chủ thể tương phản với “tự ngã” (ego)). Ngoài ra, thuật ngữ này còn được những người ủng hộ thuyết cấu trúc (chẳng hạn như Althusser cho rằng chủ thể là sản phẩm của ý hệ) và thuyết hậu cấu trúc (chẳng hạn như Foucault cho rằng chủ thể là kết quả của các quan hệ quyền lực – một luận cứ phái sinh từ Nietzsche) bàn luận. Cả hai cách tiếp cận này đều có chung với nhau quan niệm rằng tính chủ thể (tức thuộc tính của việc là một chủ thể) là do các lực lượng xã hội và các quan hệ cấu tạo nên; nói cách khác, mọi quan niệm về tính chủ thể phụ thuộc vào các nhân tố chính trị, xã hội và văn hóa. Tương tự, những nhà tư tưởng chẳng hạn như Lyotard lập luận rằng không thể coi tính chủ thể là một cái gì độc lập với các hình thức ngôn ngữ; đúng hơn, nó hình thành đồng thời ở trong và từ chính những cách ta nói. Vì thế, từ lập trường của Lyotard, khái niệm “trò chơi ngôn ngữ” do Wittgenstein giai đoạn sau đề xuất, trong đó trong đó ông ví các trò chơi ngôn ngữ như trò cờ vua, ngầm chứa một tiền giả định con người là trung tâm rằng các tác nhân con người là nguồn phát sinh ý nghĩa (tức là như thể có một cái gì đó ở ngoài trò chơi ngôn ngữ đang “điều động” các quân cờ trong ván chơi). Những phê phán kiểu ấy có thể được đem đối chiếu với viễn tượng do những người cổ súy cho chủ nghĩa tự do cổ điển đề xướng, những người nhìn chung thường đặt khái niệm tính chủ thể đối lập với khái niệm về xã hội hoặc ngôn ngữ. Vì thế, khái niệm về “chủ thể chính trị” cũng quan trọng không kém, tức một thực thể có địa vị chính trị được xác định và một tập hợp đặc tính riêng, những đặc tính ấy hoặc tồn tại độc lập với, hoặc tồn tại nhờ vào (tùy theo quan điểm của bạn), một mô thức tổ chức xã hội-chính trị nhất định (x. tư cách công dân). Xem thêm: bản ngã cá nhân. Đọc thêm: Block, N., Flanagan, O. and Guzeldere, G. (eds) (1997) The Nature of Consciousness: Philosophical Debates, Cambridge, MA: MIT Press. Bowie, A. (1990) Aesthetics and Subjectivity: From Kant to Nietzsche, Manchester: Manchester University Press. Dallmayr, F.R. (1981) Twilight of Subjectivity: Contributions to a Post-Individualist Theory of Politics, Amherst, MA: University of Massachusetts Press. Farrell, F.B. (1994) Subjectivity, Realism, and Postmodernism: The Recovery of the World, Cambridge and New York: Cambridge University Press. Đinh Hồng Phúc dịch Nguồn: Andrew Edgar, Peter Sedgwick. Cultural Theory: The Key Concepts. Routledge, 2008.
|
Ý KIẾN BẠN ĐỌC