Chủ nghĩa Marx

"Bí mật của xã hội có giáo dục"

GIA ĐÌNH THẦN THÁNH – MỤC LỤC

 

CHƯƠNG V

SỰ PHÊ PHÁN CÓ TÍNH PHÊ PHÁN

DƯỚI BỘ MẶT ANH LÁI BUÔN NHỮNG BÍ MẬT,

HAY LÀ

SỰ PHÊ PHÁN CÓ TÍNH PHÊ PHÁN

THỂ HIỆN Ở ÔNG SÊ-LI-GA

 


C. Mác và Ph. Ăng-ghen Toàn tập, tập 2, Nxb. Chính trị Quốc gia – Sự thật, Hà Nội, 1995, tr. 92-104. | Nguyên văn tiếng Đức Bản dịch tiếng Anh | Bản dịch tiếng Pháp.


 

 

3. "BÍ MẬT CỦA XÃ HỘI CÓ GIÁO DỤC"

 

Sau khi đã chỉ cho chúng ta thấy những tầng lớp thấp nhất của xã hội và đưa chúng ta đi thăm những quán rượu của bọn tội phạm, v.v., Ơ-gien Xuy lại dẫn chúng ta vào xã hội thượng lưu và đến một phòng khiêu vũ ở khu phố Xanh Giéc-manh.

Ông Sê-li-ga giới thiệu sự di chuyển đó như sau:

"Cái bí mật bao giờ cũng tìm cách dùng một sự chuyển biến mới để trốn tránh sự khảo sát. Cho tới nay, với tư cách là một cái gì tuyệt đối không hiểu được, không sao nắm được, có tính chất phủ định nó vẫn đối lập với cái có thực, hiện thực và khẳng định. Hiện nay nó lại xâm nhập vào cái có thực, hiện thực, khẳng định ấy như là nội dung không thể thấy được của cái ấy. Nhưng do đó mà nó cũng loại trừ tính tuyệt đối không có nhận thức được".

Cái "bí mật" từ trước tới nay vẫn đối lập với "cái có thực", "hiện thực" và "khẳng định", nghĩa là với pháp luật và giáo dục "bây giờ lại thâm nhập vào cái ấy", nghĩa là vào lĩnh vực giáo dục thì đây là một điều bí mật, nếu không phải là điều bí mật của Pa-ri thì cũng là điều bí mật đối với Pa-ri. Ông Sê-li-ga không chuyển từ những bí mật của thế giới tội phạm sang những bí mật của xã hội quý tộc; mà trái lại làm cho cái "bí mật nói chung" trở thành "nội dung không thể thấy được", thành bản chất thực sự của xã hội có giáo dục. Đây không phải là một "sự chuyển biến mới" của ông Sê-li-ga để mở đường cho những sự khảo sát sâu thêm; đó là "sự chuyển biến mới" của bản thân cái bí mật để cho có thể lẩn tránh sự điều tra.

Trước khi thực sự đi theo Ơ-gien Xuy đến nơi mà trái tim ông ta hướng tới, nghĩa là đến cuộc khiêu vũ quý tộc, ông Sê-li-ga còn sử dụng những sự chuyển biến giả tạo  của tư biện đang cấu thành a priori.

"Rõ ràng là người ta có thể dự kiến rằng cái bí mật bao giờ cũng cố tìm cách ẩn náu trong một cái vỏ rất vững chắc. Và trên thực tế dường như trước mắt chúng ta là tính không thể thâm nhập khó lòng vượt qua... do đó, có thể dự tính, về đại thể có thể nói... Tuy nhiên, ở đây một cuộc thí nghiệm mới để truy cứu đến nơi đến chốn là không tránh khỏi".

Thế là đủ rồi. Trong việc này ông Sê-li-ga đã đạt được nhiều thành tựu đến nỗi

"chủ thể siêu hình của bí mật giờ đây hiện ra thanh thoát, nhẹ nhàng, thoải mái và lẳng lơ".

Muốn biến xã hội quý tộc thành điều "bí mật", ông Sê-li-ga tìm cách nhớ vào một số lần suy nghĩ để giải thích ý nghĩa của giáo dục. Ông gán trước cho xã hội quý tộc cả một loạt tính chất mà không ai thấy nó có, để sau đó phát hiện một cái "bí mật" là xã hội quý tộc không có những tính chất đó. Tiếp đó, ông ta coi sự phát hiện đó là cái "bí mật" của xã hội có giáo dục. Ông Sê-li-ga đặt ra cho mình những câu hỏi như: "Lý tính phổ biến" (có lẽ là lô-gích tư biện?) Phải chăng là đầu đề của "những câu chuyện xã giao" trong xã hội có giáo dục? "Phải chăng duy trì có nhịp điệu cung bực của tình yêu đối với con người mới làm cho" xã hội đó "trở thành một chỉnh thể nhịp nhàng?" "Cái mà chúng ta gọi là giáo dục chung, phải chăng chính là hình thức của cái phổ biến, của cái vĩnh cửu và của cái lý tưởng", nói cách khác, phải chăng cái chúng ta gọi là giáo dục là kết quả của sự tưởng tượng siêu hình? Để trả lời những câu hỏi đó, ông Sê-li-ga cũng dễ dàng tiên tri a priori rằng:

"Nhưng có thể dự tính rằng... câu trả lời đối với những vấn đề ấy sẽ là phủ định".

Trong tiểu thuyết của Ơ-gien Xuy, quá trình chuyển từ xã hội bình dân lên xã hội quý tộc được hoàn thành bằng thủ pháp chung của các cuốn tiểu thuyết. Sự hoá trang của Rô-đôn-phơ, ông hoàng Giê-rôn-stanh, giúp ông đi sâu vào những tầng lớp dưới của xã hội cũng như danh hiệu của ông giúp ông gần gũi tầng lớp trên của xã hội. Điều mà ông suy nghĩ trên đường đi dự cuộc khiêu vũ quý tộc không phải là những cảnh trái ngược của sinh hoạt xung quanh: ông chỉ cảm thấy những cảnh trái ngược của những kiểu hoá trang của mình thú vị. Ông mách bảo những bạn đường ngoan ngoãn nhất của mình rằng ông cảm thấy thích thú khác thường như thế nào trong những cảnh ngộ khác nhau.

"Tôi cảm thấy - ông nói - những cảnh trái ngược đó khá thú vị: hôm qua tôi là một họa sĩ ngồi vẽ quạt trong một ngôi nhà nhỏ ở phố Phe-vơ; sáng nay, tôi là anh hầu bàn dâng cho bà Pi-plê một cốc rượu thơm nấu bằng hắc-phúc-bôn và chiều nay... tôi lại là một trong những người có đặc quyền nhờ ơn thần thánh mà cai quản thế gian này".

Được mời dự cuộc khiêu vũ, sự phê phán có tính phê phán cất tiếng hát:

"Với sự có mặt của các vị thần trên trái đất

Tôi cơ hồ sắp mất cả tinh thần và lý trí"24

Và sự phê phán có tính phê phán đã thổ lộ nỗi lòng trong những bài hát ca tụng sau:

"Ở đây, phép mầu của ảo thuật đã toả ánh sáng mặt trời giữa ban đêm, đã khoác cho mùa đông màu xanh tươi của mùa xuân và vẻ rực rỡ của mùa hề. Lập tức chúng ta bị xâm chiếm bởi tâm trạng là chúng ta sẵn sàng tin vào điều kỳ diệu là có đấng thần linh tồn tại trong lòng người, nhất là khi mà cái đẹp và cái duyên dáng khiến chúng ta hoàn toàn tin tưởng rằng chúng ta đang ở ngay bên cạnh lý tưởng". (!!!)

Hỡi vị mục sư - phê phán ở nông thôn, thiếu kinh nghiệm và cả tin! Chỉ có tính giản dị phê phán của ngài mới có thể vừa bước khỏi phòng khiêu vũ lộng lẫy ở Pa-ri ra đã chuyển ngay vào tâm trạng mê tín đến nỗi tin vào "điều kỳ diệu là có đấng thần linh tồn tại trong lòng người" và thấy những cô gái mê hồn ở Pa-ri là "lý tưởng ở ngay bên cạnh", là những thiên thần hoá thân.

Trong cái ngây thơ rất đáng yêu của mình, vị mục sư - phê phán của chúng ta định nghe trộm câu chuyện giữa "hai bậc giai  nhân tuyệt sắc" là Clê-măng Đác-vin và bá tước phu nhân Xa-ra Mác Grê-go. Bạn đọc hãy đoán xem ông ta định "nghe trộm" cái gì? Ông ta muốn nghe:

"Chúng ta làm thế nào để có thể cầu phúc cho những đưa con đáng yêu, làm thế nào để ông chồng được hưởng hạnh phúc đầy đủ"... "Chúng tôi nghe... chúng tôi lấy làm ngạc nhiên... Chúng tôi không dám tin ở tai mình".

Trong thâm tâm, chúng tôi cảm thấy một niềm vui ác độc khi thấy vị mục sư đi nghe trộm chuyện riêng bị thất vọng. Mấy vị phu nhân đó chẳng bàn đến "cầu phúc" cũng chẳng bàn đến "hạnh phúc đầy đủ", cũng chẳng bàn đến "lý tính phổ biến", mà trái hẳn lại "vấn đề là dụ dỗ cho bà Đác-vin bạc tình với chồng bà".

Về một trong hai vị phu nhân đó là bá tước phu nhân Mác Grê-go, người ta có được một tài liệu mộc mạc sau:

Bà ta "khá khôn ngoan để không trở thành mẹ, sau một cuộc hôn nhân bí mật".

Khó chịu vì sự khôn ngoan đó của bá tước phu nhân, ông Sê-li-ga đã nghiêm khắc răn bảo rằng:

"Theo quan điểm của chúng tôi, hết thảy mọi nguyện vọng của bá tước phu nhân chỉ nhằm có được cái lợi ích kỷ của cá nhân mình".

Nếu bà ta toại nguyện và kết hôn với ông hoàng Giê-rôn-stanh thì theo ông Sê-li-ga, điều đó chẳng hứa hẹn điều gì tốt đẹp cả.

"Chúng ta tuyệt nhiên không hy vọng rằng việc bà xuất giá sẽ đem lại hạnh phúc cho bầy tôi của ông hoàng Giê-rôn-stanh".

Khi kết thúc lời răn bảo, vị tín đồ thanh giáo của chúng ta chỉ ra một cách "hết sức trịnh trọng" rằng:

"Xa-ra" (vị phu nhân khôn ngoan) "tuy là một nhân vật xuất chúng trong thời gian hào hoa, nhưng vị tất đã là một ngoại lệ trong giới đó".

Tuy ! Nhưng vị tất ! Ơ kia! "nhân vật xuất chúng" trong giới đó - há chẳng phải là một ngoại lệ hay sao?

Về tính cách của hai "nhân vật lý tưởng" khác là hầu tước phu nhân Đác-vin và công tước phu nhân Lu-xe-nay, chúng ta được biết như sau:

Họ "không được thoả mãn trong lòng. Họ không tìm thấy đối tượng yêu trong hôn nhân, cho nên họ đi tìm bên ngoài hôn nhân. Đối với họ, tình yêu trong hôn nhân vẫn là một bí mật và sự xúc động mãnh liệt của trái tim thúc đẩy họ tìm cách bóc trần bí mật ấy. Như vậy là hai bà đều chìm đắm trong tình yêu bí mật. Những vật hy sinh đó của hôn nhân không tình yêu đã vô tình hạ thấp tình yêu thành một cái gì thuần tuý bên ngoài, thành cái gọi là quan hệ trai gái và sẵn sàng coi nhân tố lãng mạn, tức cái bí mật, là một cái bên trong, một cái đem lại một cái có sinh khí, một cái bản chất trong tình yêu".

Luận cứ biện chứng này càng được ứng dụng vào mọi trường hợp của đời sống thì chúng ta càng phải đánh giá cao công lao của nó.

Chẳng hạn, ai không dám uống rượu ở nhà mình nhưng cảm thấy cần uống rượu thì sẽ tìm ở "bên ngoài" nhà mình, "đối tượng" uống rượu và "như vậy là" lao mình vào cuộc say sưa bí mật. Như thế vẫn chưa hết. Anh ta thậm chí bị một lực lượng không sao khắc phục được đẩy tới chỗ coi cái bí mật là yếu tố bản chất của "sự uống rượu" tuy rằng anh ta không thể hạ thấp "sự uống rượu" thành "một cái gì thuần tuý bên ngoài", có cũng được không có cũng chẳng sao, giống như mấy vị phu nhân nói trên sẽ không hạ thấp tình yêu xuống mức đó. Vì theo sự giải thích của chính ông Sê-li-ga, họ không hạ thấp bản thân tình yêu mà hạ thấp hôn nhân không có tình yêu xuống tận bộ mặt vốn có của nó, - hạ thấp xuống thành cái gì ở bên ngoài, thành cái gọi là quan hệ trai gái.

Ông Sê-li-ga hỏi tiếp:

"Bí mật của tình yêu là gì ?"

Chúng ta vừa được biết lập luận biến "bí mật" thành "bản chất" của thứ tình yêu đó. Vậy bây giờ chúng ta làm thế nào mà tìm được cái bí mật của bí mật, bản chất của bản chất ? Vị mục sư ngâm nga rằng:

"Không phải là những con đường nhỏ rậm mất giữa những lùm cây, không phải là cái mông lung tự nhiên của một đêm trăng, không phải là cái mông lung nhân tạo của những màn cửa và rèm cửa quý giá, không phải là tiếng nhạc du dương và mê ly của những chiếc thụ cầm và phong cầm, không phải là sức cám dỗ của quả cấm...".

Màn cửa và rèm cửa ! Tiếng nhạc vừa du dương lại vừa mê ly! Còn có thêm phong cầm nữa ! Ngài mục sư ạ, vậy ngài hãy quên nhà thờ đi. Ai sẽ mang phong cầm tới nơi hẹn hò?

"Tất cả những cái đó (màn cửa, rèm cửa, và phong cầm) chẳng qua chỉ là một cái gì bí mật".

Thế thì há chẳng phải bí mật này là "bí mật" của tình yêu bí mật hay sao ? Tuyệt nhiên không phải.

"Bí mật trong tình yêu là cái làm cho kích động, say sưa, làm mê ly, là uy lực của tình dục".

Với tiếng nhạc "du dương và mê ly", vị mục sư đã có được cái làm cho mê ly. Và nếu như ông ta không mang rèm cửa và phong cầm mà mang ba ba và rượu sâm banh ra nơi hẹn hò với người yêu thì ông ta sẽ không thiếu cái "làm cho khích độngsay sưa".

Vị thánh của chúng ta dạy rằng:

"Đành rằng chúng ta không muốn thừa nhận uy lực của tình dục: Nhưng sở dĩ nó có một uy lực lớn như vậy đối với chúng ta chỉ là vì chúng ta loại trừ nó ra khỏi bản thân chúng ta, vì chúng ta không thừa nhận nó là bản tính của bản thân chúng ta, cái bản tính mà trong trường hợp thừa nhận nó chúng ta có thể khắc phục được một khi nó tìm cách biểu hiện ra bằng cách hy sinh lý tính, tình yêu chân chính và sức mạnh của ý chí".

Theo tinh thần của thần học tự nhiên, vị mục sư khuyên chúng ta thừa nhận tình dục là bản tính của chúng ta để sau đó có thể khắc phục nó, nghĩa là rút lui sự thừa nhận này. Đành rằng ông ta chỉ sẵn sàng khắc phục tình dục, nếu nó định biểu hiện ra bằng cách hy sinh lý tính (sức mạnh của ý chí, và tình yêu, đối lập với tình dục, là thuộc lĩnh vực của lý tính) Nhưng ngay cả tín đồ Cơ Đốc không tư biện cũng thừa nhận tình dục trong chừng mực nó không tìm cách biểu hiện ra bằng cách hy sinh lý tính chân chính, tức tín ngưỡng, không hy sinh tình yêu chân chính tức tình yêu thượng đế, không hy sinh sức mạnh chân chính của ý chí, tức ý chí của Crít.

Vị mục sư tiết lộ ngay ý kiến thực sự của mình về vấn đề đó khi ngài nói tiếp:

"Vì vậy, nếu tình yêu không còn là bản chất của hôn nhân, bản chất của luân lý nói chung thì tình dục sẽ trở thành bí mật của tình yêu, của đạo đức, của xã hội có giáo dục, tình dục ở đây không những cần hiểu theo nghĩa hẹp tức sự rung động của thần kinh, luồng máu nóng chạy trong mạch máu, mà còn phải hiểu theo nghĩa rộng hơn khi nó được nâng lên thành cái bề ngoài của uy lực tinh thần, thành lòng ham muốn quyền thế, háo danh và tham vọng... Hầu tước phu nhân Mác Grê-go tiêu biểu cho tình dục theo nghĩa thứ hai, tình dục với tính cách là bí mật của xã hội có giáo dục".

Vị mục sư đã nắm trúng vấn đề: muốn khắc phục được tình dục thì trước hết phải chế ngự được những dòng thần kinh sự tuần hoàn nhanh của máu. - Khi nói đến tình dục theo nghĩa hẹp, ông Sê-li-ga đưa ra ý kiến cho rằng nhiệt độ cao hơn của cơ thể là do máu sôi lên trong mạch máu. Ông ta biết rằng động vật máu nóng sở dĩ mang tên đó là vì nhiệt độ máu của nó nếu không chú ý đến những biến động không đáng kể thì vẫn thường xuyên giữ một độ cao nhất định. - Một khi thần kinh ngừng hoạt động và máu ngừng sôi trong mạch máu thì thể xác tội lỗi, nơi trú ngụ của tình dục, sẽ biến thành thây ma và các linh hồn tha hồ mà bàn bạc với nhau về "lý tính phổ biến", về "tình yêu chân chính" và "đạo đức thuần tuý". Vị mục sư của chúng ta hạ thấp tình dục đến mức thủ tiêu cả những yếu tố kích thích tình yêu tức sự tuần hoàn nhanh của máu (nó chứng minh rằng người yêu không phải có trạng thái trơ trơ không có tình dục) và những dòng thần kinh nó nối liền cơ quan chủ yếu của tình dục với đại não. Ông ta quy tình yêu chân chính thành secretio seminis máy móc và nói lí nhí với một nhà thần học nổi tiếng xấu ở Đức rằng:

"Đây không phải vì tình yêu nhục dục, cũng không phải vì nhục dục mà vì Chúa đã phán bảo: các người hãy sinh sôi nảy nở, hãy phát triển đông đảo lên".

Bây giờ, chúng ta hãy so sánh kết cấu tư biện với tiểu thuyết của Ơ-gien Xuy. Ở đây, không phải là tình dục mà là những điều thần bí, những cuộc mạo hiểm, những trở lực, những niềm lo lắng, những sự nguy hiểm và nhất là sự cám dỗ của quả cấm đã được coi là bí mật của tình yêu.

Ở đây nói: "Tại sao nhiều phụ nữ cứ kiếm những người đàn ông không xứng đáng làm chồng mình làm người yêu của mình? Vì ma lực lớn nhất của tình yêu là ở chỗ nó có sức cám dỗ của quả cấm... Bạn sẽ đồng ý rằng gạt bỏ những nỗi lo âu, những niềm đau khổ, những khó khăn, những bí mật, những nguy hiểm thì tình yêu chẳng còn gì nữa hoặc hầu như chẳng còn gì nữa, nghĩa là chỉ còn lại cái xác thịt của người yêu... Tóm lại, nó ít nhiều giống như câu chuyện của một anh chàng được người ta hỏi rằng tại sao anh không kết hôn với mụ goá, tình nhân của anh? - Chao ôi ! - anh chàng trả lời, - dĩ nhiên là tôi đã nghĩ tới điều đó, nhưng có điều là cưới nhau rồi thì tôi không biết sẽ đi ngủ đêm ở đâu ?".

Nếu ông Sê-li-ga nhấn mạnh rằng bí mật của tình yêu không phải ở xúc cảm đó của quả cấm thì ông Ơ-gien Xuy lại nhấn mạnh rằng quả cấm là "ma lực lớn nhất của tình yêu" và là căn cứ của những cuộc mạo hiểm săn tình yêu ở bên ngoài nhà ở.

"Trong tình yêu cũng như trong buôn bán, sự cấm đoán và sự lén lút bao giờ cũng đi đôi với nhau như hình với bóng"25.

Cũng vậy, trái với người giải thích mình một cách tư biện. Ơ-gien Xuy khẳng định rằng

"khuynh hướng giả vờ và mánh lới cũng như khuynh hướng thích những cái bí mật và éo le là đặc điểm bản chất, là xu hướng bẩm sinh và bản năng chủ yếu của phụ nữ".

Điều làm cho Ơ-gien Xuy phiền lòng là thiên hướng đó và ý thích đó chống lại hôn nhân. Ông muốn đem lại cho bản năng ấy của phụ nữ một ứng dụng ít tác hại hơn và bổ ích hơn.

Trong khi ông Sê-li-ga biến bá tước phu nhân Mác Grê-go thành người tiêu biểu cho thứ tình dục "được nâng lên thành cái bề ngoài của uy lực tinh thần" thì Ơ-gien Xuy lại mô tả bà ta thành con người của lý trí trừu tượng. "Đầu óc háo danh" và "tính kiêu ngạo" của bà hoàn toàn không thể thành những hình thức của tình dục mà là sản vật của lý trí trừu tượng không dính líu gì đến tình dục. Chính vì thế mà ông Ơ-gien Xuy nhấn mạnh:

"Những sự xúc động nóng bỏng của tình yêu chưa hề làm cho trái tim giá lạnh tựa băng của bà rung động: không một sự rung động tơ lòng nào biến đổi được những tính toán khắt khe của người đàn bà mánh lới, tự tư và háo danh này".

Đặc trưng căn bản của người phụ nữ này là tính ích kỷ của lý trí trừu tượng, không có tình cảm và lạnh nhạt khắt khe. Cho nên trong cuốn tiểu thuyết, tâm hồn bà được mô tả là một tâm hồn "khô khan và khắc nghiệt", đầu óc bà là một đầu óc "khôn ngoan và độc địa", tính cách bà là một tính cách "xảo quyệt và tuyệt đối" (cái thứ tuyệt đối đặc trưng cho con người của lý trí trừu tượng), thói làm điệu làm bộ của bà thì được mô tả là "sâu sắc". Nhân tiện cũng nói thêm rằng: trong tiểu thuyết của Ơ-gien Xuy, đường đời của bá tước phu nhân, cũng như của phần lớn nhân vật khác, đều được mô tả một cách ngu xuẩn. Một người vú già đã làm cho bà bá tước phu nhân tin rằng về sau mình sẽ đội "mũ miện". Ám ảnh bởi lòng tin đó nên bà ta đi du hành định kiếm chiếc mũ miện bằng một cuộc hôn nhân. Rút cục, bà ta tỏ ra là không triệt để đến nỗi nhầm một "công tước" nhỏ bé của nước Đức là một "nhân vật đội mũ miện".

Sau khi thoá mạ tình dục, vị thánh đồ phê phán của chúng ta cho rằng còn phải giải thích tại sao Ơ-gien Xuy đã mô tả một cuộc khiêu vũ để đưa chúng ta vào xã hội thượng lưu - một thủ pháp ưa dùng của hầu hết các nhà viết tiểu thuyết Pháp - còn như các nhà viết tiểu thuyết Anh lại thường dùng một cuộc đi săn hoặc một biệt thự ở nông thôn để giới thiệu cho chúng ta xã hội thượng lưu.

"Đối với cách lý giải vấn đề như thế" (nghĩa là đối với quan điểm của ông Sê-li-ga) "thì việc Ơ-gien Xuy mô tả một buổi khiêu vũ để đưa chúng ta vào xã hội thượng lưu không phải là điều không quan hệ gì và về phương diện đó" (về phương diện kết cấu của ông Sê-li-ga) "thì việc đó cũng không phải là hoàn toàn ngẫu nhiên".

Thế là nhà phê phán của chúng ta thả lỏng dây cương cho con ngựa cái phi bừa qua cả một chuỗi những sự chứng minh tính tất nhiên đó theo tinh thần của lão già Vôn-phơ đã chầu trời.

"Khiêu vũ là biểu hiện phổ biến nhất của tình dục, về mặt là cái bí mật. Trong khiêu vũ, được phép trực tiếp đụng chạm, ôm ấp nhau giữa nam nữ (?) "do việc xếp thành đôi mà có, vì khiêu vũ nhìn bên ngoài thì có cảm giác thích thú và trên thực tế" (trên thực tế"?, ngài mục sư !) "cũng vậy, song rút cục vẫn không bị coi là sự đụng chạm và ôm ấp có tính chất tình dục" (chắc hẳn là sự đụng chạm và ôm ấp có tính chất lý tính phổ biến ?).

Và cuối cùng là một kết luận mà ta có thể nói là nó chồm lên đúng hơn là nói nó khiêu vũ:

"Vì nếu người ta thực sự coi khiêu vũ là sự đụng chạm và sự ôm ấp mang tính chất tình dục thì người ta sẽ không hiểu được tại sao xã hội lại chỉ rộng lượng đối với khiêu vũ trong khi ngược lại nó lên án gay gắt tất cả những hiện tượng tương tự nếu những hiện tượng này biểu hiện ra bừa bãi như thế ở một nơi khác, và trừng phạt những tội phạm đó coi là những sự vi phạm không thể tha thứ được đến đạo đức và phong hoá, bằng cách chỉ trích và bài xích một cách không thương xót".

Ngài mục sư không nói về điều nhảy can-can và điệu nhảy pôn-ca: ông nói về khiêu vũ nói chung, về phạm trù khiêu vũ là một phạm trù chỉ được nhảy múa dưới cái xương sọ phê phán của ngài mục sư thôi. Nếu ông ta có dịp đi xem khiêu vũ tại tiệm "Sô-mi-e-rơ" ở Pa-ri thì tâm hồn Đức Cơ Đốc của ông ta sẽ bị kích động mạnh bởi sự xấc xược, sự lộ liễu, sự phóng đãng, bởi cái điệu nhạc gợi tình. Cái "cảm giác êm dịu có thể thu được trên thực tế" của chính ông sẽ đem lại cho ông khả năng "cảm thấy" rằng "quả thật, không thể hiểu tại sao bản thân những người khiêu vũ, trong khi trái lại" họ gây cho khán giả cái ấn tượng sảng khoái khêu gợi tình dục lộ liễu của con người ("điều này nếu biểu hiện ra cũng theo phương thức đó ở một nơi khác" tức ở Đức, "sẽ kéo theo nó, như một sự phá hoại không thể tha thứ được", v.v. và v.v.) - tại sao bản thân những người khiêu vũ không nên và không dám - ít ra là có thể nói như vậy - tự coi là những người có tình dục lộ liễu, khi họ không những có thể mà tất nhiên phải là những người như vậy !!

Vì kính yêu bản chất của khiêu vũ, nhà phê phán của chúng ta đưa chúng ta vào cuộc khiêu vũ. Nhưng ông ta vấp phải một khó khăn lớn. Trong cuộc khiêu vũ này, tuy người ta có nhảy múa, nhưng người ta chỉ nhảy múa trong tưởng tượng thôi. Vấn đề là ở chỗ Ơ-gien Xuy chẳng miêu tả gì về khiêu vũ cả. Ông ta không lẫn lộn vào trong đám người khiêu vũ. Cuộc khiêu vũ chỉ là một dịp để ông ta tập hợp những nhân vật thuộc giới quý tộc lớp trên. Trong cảnh tuyệt vọng, "sự phê phán" vội vã bổ sung cho nhà văn và "trí tưởng tượng" của bản thân nó miêu tả cuộc khiêu vũ một cách dễ dàng, v.v.. Nếu như tuân theo quy định của sự phê phán Ơ-gien Xuy mô tả sào huyệt và ngôn ngữ của bọn tội phạm mà không mảy may có hứng thú trực tiếp đối với sào huyệt và ngôn ngữ của bọn ấy thì trái lại cuộc khiêu vũ mà bản thân ông không mô tả và do nhà phê phán "dồi dào đầu óc tưởng tượng" của ông mô tả, tất nhiên làm cho ông vô cùng hứng thú.

Hãy nghe tiếp !

"Thực ra, bí mật của âm điệu và tiết tấu xã giao, bí mật của sự việc hết sức trái tự nhiên đó, là lòng khao khát trở về với tự nhiên. Vì thế mà tình hình ấy, giống như Xê-xi-li, đã gây ra trong xã hội có giáo dục một ấn tượng giống như điện giật và đưa tới những thành tựu không bình thường. Đối với nàng, một nữ tỳ lớn lên giữa đám nô lệ không được sự giáo dục và hoàn toàn chỉ chịu sự chi phối của bản tính thì bản tính đó là nguồn sống duy nhất. Đột nhiên được tiến cử vào nơi cung điện, phải khép mình theo phong tục tập quán nơi này, nàng thâm nhập nhanh chóng vào bí mật của phong tục tập quán này. Trong hoàn cảnh ấy, hoàn cảnh mà nàng hoàn toàn đủ sức chi phối được, vì lực lượng của mình, lực lượng của bản tính của mình ảnh hưởng đến những người xung quanh như một ma lực khó hiểu, Xê-xi-li không tránh khỏi rơi vào con đường lầm lạc và đâm ra bừa bãi, thế mà trước đây khi nàng còn là nô tỳ, cũng chính cái bản tính đó đã dạy cho nàng cự tuyệt mọi đòi hỏi xấu xa của tên chủ của nàng và trước sau trung thành với tình yêu của mình, Xê-xi-li là cái bí mật đã bị bóc trần của xã hội có giáo dục. Tình cảm bị ức chế cuối cùng đã tức nước vỡ bờ và tự do hoành hành không gì chế ngự nổi", v.v..

Dĩ nhiên bạn đọc nào đọc Sê-li-ga mà chưa xem cuốn tiểu thuyết của Ơ-gien Xuy thì tưởng rằng Xê-xi-li là cô gái đẹp mê người trong buổi khiêu vũ này. Nhưng trong cuốn tiểu thuyết, khi người ta đang khiêu vũ ở Pa-ri, nàng lại ngồi trong nhà tù ở Đức.

Là một nữ nô lệ, Xê-xi-li trước sau vẫn trung thành với y sĩ da đen Đa-vít, vì nàng yêu anh "say sưa" và vì chủ nàng, ngài Vi-lít, đang theo đuổi nàng một cách "thô bạo". Trong cuốn tiểu thuyết, nguyên nhân khiến nàng sa vào cuộc đời truỵ lạc được nêu ra một cách hết sức giản đơn. Được đưa vào "thế giới những người Âu", nàng "hổ thẹn phải lấy một anh chàng da đen". Vừa đặt chân đến nước Đức, một người hủ bại nào đó đã làm cho nàng sa ngã "ngay". Đấy là tác dụng của "dòng máu in-đi-an" chảy trong mạch máu nàng. Để cho hợp với cái "đạo đức đáng yêu" và sự "giao dịch đáng yêu", Ơ-gien Xuy giả nhân giả nghĩa không thể không gọi hành vi đó là "sự truỵ lạc bẩm sinh".

Cái bí mật của Xê-xi-li là ở chỗ nàng là cô gái lai. Cái bí mật của tình dục của nàng là cái nóng của vùng nhiệt đới. Trong những bài thơ đẹp đẽ của mình gửi Ê-lê-ô-no, Pác-ni đã ca tụng cô gái lai. Và trong hàng trăm bài du ký, chúng ta có thể thấy rằng cô gái lai là nguy hiểm biết chừng nào cho các chàng thuỷ thủ Pháp.

Chúng ta đọc trong tiểu thuyết của Ơ-gien Xuy:

"Xê-xi-li là hiện thân của cái tình dục mãnh liệt chỉ bùng cháy dưới cái nóng của vùng nhiệt đới... Ai nấy đều nghe nói về những cô gái da màu có thể nói là nguy hiểm chết người đối với người Âu, những con quỷ hút máu mê người đó đã làm cho những vật hy sinh của chúng say sưa trước sự quyến rũ kinh khủng... và, giống như câu tục ngữ kiên quyết của địa phương, chúng chỉ để cho họ uống nước mắt họ khi khát và gặm trái tim họ khi đói".

Nhưng Xê-xi-li không hề có cái ma lực đó đối với những người no nê được hưởng giáo dục quý tộc...

Ơ-gien Xuy viết:

"Hạng đàn bà như Xê-xi-li thường gây ra một ảnh hưởng bất ngờ, một ma lực không sao cưỡng được đối với những đại biểu của tình dục thô bạo như Giắc-cơ  Phe-răng".

Loại người như Giắc-cơ Phe-răng đại diện cho xã hội thượng lưu từ bao giờ nhỉ? Song sự phê phán có tính phê phán cần xây dựng Xê-xi-li thành một vòng khâu trong quá trình sống của cái bí mật tuyệt đối.

 



24 Mác dịch nghĩa hai câu trong vở kịch của Gơ-tơ "Phau-xtơ" màn 1 cảnh 6 ("Nhà bếp của mụ phù thuỷ").

25 Trích dẫn trong tác phẩm của S.Phu-ri-ê, "Học thuyết về sự thống nhất của thế giới" ("Théorie de l'unité universelle"), ch.3, thiên II, tập III. Quyển sách này xuất bản lần đầu tiên vào năm 1882 với nhan đề "Traité de l'association domestique-agricole" ("Bàn về hội liên hiệp gia đình - nông nghiệp").

 

Ý KIẾN BẠN ĐỌC

Mọi liên lạc và góp ý xin gửi về: dinhhongphuc2010@gmail.com.
Bản quyền: www.triethoc.edu.vn
Chịu trách nhiệm phát triển kỹ thuật: Công ty TNHH Công Nghệ Chuyển Giao Số Việt